Lục phủ - Ngũ quan
Lục phủ - Ngũ quan

  

1. LỤC PHỦ

 Là 6 cặp xương bìa ngoài của khuôn mặt. Phủ là kho của trời.

- Thiên dương thượng phủ: Cặp xương  2  bên  góc  trên  mái  tóc (trán) kéo dài xuống đầu tai trên.

-  Quyền  cốt  trung  phủ:  Cặp xương 2 bên từ đầu tai tiếp đến hết tai.

- Tai cốt hạ phủ: Cặp xương 2 bên từ cuối tai đến địa các.

Nếu   Lục   phủ   đầy   đặn,   không khuyết hãm thì cuộc sống no ấm, đầy đủ. "Nhất phủ thành 10 năm quý hiển". Điều kiện: xương thịt cân phân, không được có gì nhiều quá.

Nếu Thiên thượng phủ nở rộng, thoáng thì thiếu thời sung sướng được  hưởng  tổ  nghiệp  của  tiền nhân để lại.

Nếu Trung phủ thần (tốt) thì trung mệnh được hưởng thành quả mình làm ra.

Nếu Hạ phủ thần thì vãn niên tụ nhiều của cải, tài lộc.

 

2. NGŨ QUAN Gồm lông mày, mắt, tai, miệng, mũi.

1.  Lông  mày:  Bảo thọ quan.

Quan  thần:  Lông mày phải ra đến khóe mắt, sợi  lông  mày  vừa  phải  (to quá thì cương liệt, nhỏ quá thì ủy mị), khí thế tươi, nho nhã, mặt tươi cười.

Mắt  phượng  mày ngài là bị phản tướng vì phượng là cao sang còn ngài là con sâu ( không cao sang).

Xấu: Lông mày thưa (ít anh em, cô độc, có cũng như không, bất hòa), lông mày ngắn, vặn xoắn; lông mày dạng xoắn: trong cuộc sống  không  minh  mẫn thường   làm   theo   lối   bản năng  không  tốt,  tư  duy không minh triết; lông mày mọc  ngược  (nhiều  bất thường, có anh em dị bào). Mặt đen là tính tình bất hòa.

2. Mắt: Giám sát quan.

 Thành: Tối hảo    là mắt sâu dài, có thần quang (thông minh, lộ  đường nảy nở  (con  csi  tốt,  tính  tốt). Lòng  trắng  lòng  đen  phân minh. Đuôi mắt đưa lên (là người hướng thiện),nếu đưa xuống là quỷ nhãn, tính tình tiêu cực, người tâm địa bất chính, vợ chồng không yên ấm, gia đạo bất ổn.

Bất thành: Mắt tam giác (đại ác), tròng mắt lồi ra ngoài, mắt trợn, lộ quang, hay gặp tai họa,bạo bệnh.

Mắt ngắn quá: có tính cầu an. Tính cầu an thái quá nên trong đời hay bỏ qua nhiều cơ hội tốt

Mắt lộ quang, mắt vô quang sát: dễ đoản thọ.

3. Tai: Thám thính quan.

Thành: Tai trắng hơn mặt dễ thành đạt, tai cao quá mắt, càng cao càng tốt, tai ép sát vào xương đầu thường là người nổi tiếng, đứng trước mặt không thấy tai, luân quách phân minh, tai to - phát đạt.

Bất thành: Tai mỏng quá (hay bị họa), tai không rõ luân quách, lỗ tai hẹp (tính cách không quảng đại, hay săm soi người khác).

4. Miệng: Xuất nạp quan

Thành: Miệng rộng, vuông, môi hồng răng trắng. Lưỡi là linh hồn của miệng: nên phải vừa phải không ngắn quá, không dài quá. Người lưỡi dài liếm lên đầu mũi là người sang, ăn nói linh hoạt, suốt đời no đủ. Giọng nói ôn nhu, ăn nói linh hoạt.

Bất thành: Môi thổi lửa (chúm): là bần hàn. Lộ xỉ: là người trọng tự do (tướng khắc  chồng của đàn bà là đây).  Miệng thuyền úp: rất tham, chỉ nghĩ đến mình không nghĩ đến người khác, có tính tục, thực dụng, tâm hồn tiêu cực; nói sùi bọt mép, nói chảy nước dãi là người hay làm bừa, nói bừa, bất chấp dư luận miễn là được việc của mình.

5. Mũi: Thẩm biện quan.

Thành: Mũi cao, được lưỡng quyền hỗ trợ, thế mũi dài, càng dài càng tốt, không lộ xương mũi, khí sắc thanh nhã, chuẩn đầu tròn đầy (chuẩn đầu đỏ vào mùa thu là có họa); lan đài, đình úy (2 cánh mũi) nở, cân đối.

Đàn ông sơn căn (mũi) phải cao, đặc biệt là những người thành đạt, vì mũi là dương nên nếu đàn bà mà như vậy thì hỏng vì những người này có tính xã hội cao, hay phấn đấu.

Bất thành: Mũi lệch (tâm thần quẫn trí, gian trá, thường nói ngược) Sống mũi hẹp (người cô độc, đàn bà: bỏ chồng, không hạnh phúc).

Lỗ mũi lộ khổng: khó khăn về tiền bạc nhưng theo kinh nghiệm của thầy thì có lẽ vì vậy nên những người này thường căn cơ.

Sơn căn có nốt ruồi (hình ngục, quan sự), sơn căn sẹo, vết nám: tai ương bất ngờ, dễ bị pháp luật sờ gáy.

Sơn căn nhấp nhô là người mệt mỏi, khó thành đạt mặc dù có tài.

 

1